Prevalence of gestational diabetes and related factors of pregnant women having prenatal care at Tu Du hospital in 2020
- Medical Student 2015-2021 School of Medicine VNU-HCM, Vietnam
- Division of Obstetrics and Gynecology , School of Medicine, VNU-HCM, Vietnam
Abstract
Objective: Determine the prevalence of gestational diabetes and related factors of pregnant women having prenatal care at Tu Du hospital in 2020.
Materials and Methods: Cross-sectional study on 250 singleton pregnant women with gestational age from 24 to 28 weeks who had prenatal care at Tu Du hospital in 2020. All pregnant women were tested for oral glucose tolerance test (OGTT) using the 2015 American Diabetes Association (ADA) criteria for diagnosis of gestational diabetes. Based on the structured questionnaire, we interviewed pregnant women about socioeconomic characteristics, diet and obstetrical history and got information for health status and OGTT in prenatal care records.
Results: The prevalence of gestational diabetes of pregnant women who came to Tu Du hospital for prenatal care in 2020 was 32%, 95% CI [26.3-38.2]. The related factors to gestational diabetes with statistical significance are: (1) BMI before pregnancy R=1.18, 95% CI [1.07- 1.31], p=0.001 (2) past history number of gestational diabetes R= 5.23, 95% CI [1.56-17.54], p= 0.005, (3) eating yogurt > 5 days/week, > 1 box/ day R=1.14, 95% CI [1.01-1.28], p=0.038.
Conclusions: Prevalence of gestational diabetes is 32%, which is a matter of great concern at the moment. There should be recommendations on a reasonable diet and closely monitored during pregnancy with particular emphasis on high risk pregnancy for pregnant women to reduce the risk of gestational diabetes.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) đang có chiều hướng ngày càng gia tăng nhất là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Tỷ lệ thay đổi từ 2,1% - 39%, với các phương pháp chọn mẫu khác nhau, phương pháp tầm soát và tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau. Mặc dù ĐTĐTK biến mất sau sinh nhưng có thể gây ra hậu quả sức khỏe ngắn hạn và lâu dài cho mẹ và trẻ sơ sinh1.
Chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ rất quan trọng tuy nhiên chưa có tiêu chuẩn thống nhất trên thế giới. Các tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ trước đây dựa nhiều vào nguy cơ người mẹ bị đái tháo đường týp 2 về sau mà ít để ý đến các nguy cơ cho mẹ và thai nhi trong quá trình mang thai cũng như tại thời điểm chuyển dạ và sau sinh 2, 3. Năm 2008, Hiệp hội các Nhóm nghiên cứu Đái tháo đường và Thai kỳ Quốc tế (International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups: IADPSG) đã sử dụng kết quả từ nghiên cứu “The Hyperglycemia and Adverse Pregnancy Outcome” (HAPO), một nghiên cứu mù, đa trung tâm, quan sát, tiế cứu đánh giá tác động của tình trạng tăng đường huyết lên các kết cục cho mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh để đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ bằng cách sử dụng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (oral glucose tolerance test : OGTT) 2 giờ với 75g glucose 4, 5, 6. Năm 2015 Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ (the American Diabetes Association: ADA)7 đưa ra tiêu chuẩn mới khẳng định lại các tiêu chuẩn của IADPSG (3/2010)8 về thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose. Những tiêu chuẩn mới này sẽ làm tăng đáng kể tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ bởi vì chỉ cần có một giá trị bất thường thì đủ để chẩn đoán chứ không cần phải hai giá trị như trước đây.
Bệnh viện (BV) Từ Dũ là bệnh viện sản khoa đầu ngành khu vực phía Nam nước ta, với số sinh trong năm 2018 là 65000 (theo số liệu của phòng Kế hoạch tổng hợp BV Từ Dũ), đã có nhiều nghiên cứu theo tiêu chuẩn trước đây và đang bắt đầu có những nghiên cứu theo tiêu chuẩn mới. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này, với mục tiêu: Xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Từ Dũ năm 2020.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại khoa Chăm sóc trước sinh BV Từ Dũ TP.HCM với dân số chọn mẫu là các thai phụ đến khám tại Khoa khám thai BV Từ Dũ vào thời gian từ tháng 06/2020 đế tháng 11/2020 và thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu.
Cỡ mẫu
Sử dụng công thức ước lượng tỷ lệ trong một quần thể tính cỡ mẫu, với P=0,2039, xác suất sai lầm loại 1, ɑ = 0,05, trị số phân phối chuẩn, Z=1,96, sai số cho phép, d = 0,05. Kết quả tính được cỡ mẫu cần 249 thai phụ được làm tròn thành 250
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Thai phụ theo dõi khám thai với tuổi thai từ 24-28 tuần tại Khoa khám bệnh của BV Từ Dũ, có khả năng nghe hiểu và nói tiếng Việt, tâm thần ổn định và đồng ý ký tên vào bản đồng thuận tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại ra
Thai phụ đã được chẩn đoán ĐTĐ trước khi có thai, thai phụ đang mắc các bệnh có ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose như Basedow, suy giáp, Cushing, suy gan, suy thận,...Đang dùng thuốc có ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose như corticoid, salbutamol, thuốc hạ huyết áp,..Đang mắc bệnh cấp tính: nhiễm khuẩn toàn thân, lao phổi, viêm gan. Những phụ nữ không hoàn thành 2/3 của bảng câu hỏi.
Nhóm nghiên cứu
Gồm 5 phỏng vấn viên là sinh viên năm cuối Khoa Y - Đại học Quốc gia TPHCM, thay phiên nhau phỏng vấn các thai phụ và ghi chép lại số liệu, kết quả hỏi được.
Tại khoa Khám thai bệnh viện Từ Dũ, thai phụ đến khám sẽ được chọn ngẫu nhiên một cách hệ thống với khoảng cách cố định giữa các đối tượng là 5. Những thại phụ hội đủ tiêu chuẩn đưa vào và không có tiêu chuẩn loại trừ được mời tham gia nghiên cứu. Nếu thai phụ đồng ý sẽ ký tên vào bản đồng thuận, nếu không đồng ý, việc chăm sóc tại bệnh viện vẫn không thay đổi. Sau đó phỏng vấn thai phụ theo bộ câu hỏi cấu trúc, các thông tin thu thập gồm: tuổi, nơi cư ngụ, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi thai phụ thường đến khám, tuổi thai, tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ, tiền căn gia đình, cân nặng chiều cao trước mang thai, số lần mang thai, tiền sử sản khoa, thói quen ăn uống. Thai phụ được lấy máu thử đường huyết lúc đói, sau đó uống 75g glucose pha trong 200 ml nước, thử lại đường huyết 1 giờ, 2 giờ sau uống đường.
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
Bệnh đái tháo đường thai kỳ được chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn của ADA 2015: khi có bất thường trong kết quả đường huyết tại ít nhất một trong ba thời điểm: lúc đói, 1 giờ và 2 giờ.
Chỉ số đường huyết theo tiểu chuẩn: lúc đói ≥ 5,1 mmol/l, 1 giờ ≥ 10,0 mmol/l, 2 giờ ≥ 8,5 mmol/l
Số liệu được nhập bằng phần mềm EXCEL và phân tích bằng phần mềm R. Các phép kiểm được sử dụng bao gồm: c, Fisher, phép phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Ý nghĩa thống kê được chọn ở mức 5% (p < 0,05).
Nghiên cứu đã được Khoa Y ĐHQG TPHCM duyệt đề cương và được Hội Đồng Đạo Đức Bệnh viện Từ Dũ cho phép thực hiện. Ngoài ra đây là nghiên cứu quan sát đơn thuần, người nghiên cứu chỉ thu nhận thông tin mà không can thiệp vào quá trình điều trị. Thông tin thu thập được mã hóa và chỉ phục vụ cho nghiên cứu khoa học.
KẾT QUẢ
Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 80 trong tổng số 250 thai phụ tham gia nghiên cứu đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ, tương ứng với tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ là 32% KTC 95% [26,3-38,2]. Table 1 cho thấy tỷ lệ thai phụ được chẩn đoán dựa vào giá trị đường huyết tại mỗi thời điểm.
|
Thời điểm xét nghiệm |
n |
%/ tổng số thai phụ |
%/ nhóm ĐTĐTK |
|
Lúc đói: |
40 |
16 |
50 |
|
1 giờ, chẩn đoán thêm: |
21 |
8,4 |
26,3 |
|
2 giờ, chẩn đoán thêm: |
19 |
7,6 |
23,7 |
|
Tổng: |
80 |
32 |
100 |
Nhận xét: xét nghiệm ĐH lúc đói đã phát hiện được 50% số ca, sau 1 giờ phát hiện được thêm 26,3% số ca, sau 2 giờ phát hiện thêm 23,7% số ca. Nếu chỉ xét nghiệm đường huyết lúc đói bỏ sót 50% số ca mắc ĐTĐTK.
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 250 thai phụ, qua Table 2 nhìn chung cho thấy sự phân bố không đều của thai phụ trong các nhóm đối tượng nghiên cứu.
Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu
|
Đặc điểm |
ĐTĐTK n (%/ nhóm) |
Không ĐTĐTK n (%/ nhóm) |
P |
|
Nhóm tuổi | |||
|
≤ 24 |
7(9) |
15(9) |
P=0,723 |
|
25-29 |
27(34) |
67(39) | |
|
30-34 |
26(32) |
44(26) | |
|
≥ 35 |
20(25) |
44(26) | |
|
Nghề nghiệp | |||
|
Tri thức |
33(41) |
64 (38) |
P=0,759 |
|
Công nhân |
11(14) |
33(19) | |
|
Buôn bán |
7(9) |
19(11) | |
|
Nội trợ |
18(22) |
35(21) | |
|
Khác |
11(14) |
19(11) | |
|
Trình độ học vấn | |||
|
Cấp 1 |
2(3) |
9(5) |
P=0,404 |
|
Cấp 2,3 |
34(42) |
54(32) | |
|
Cao đẳng |
27(34) |
28(17) | |
|
Đại học, sau đại học |
17(21) |
79(46) | |
|
Nơi ở | |||
|
TPHCM |
35(32,1) |
74(67,9) |
P=1 |
|
Khác |
45(31,9) |
96(68,1) | |
|
Tổng |
80 |
170 | |
Các biến nhóm tuổi, nghề nghiệp và nơi ở dùng phép kiểm CHI bình phương, biến trình độ học vấn dùng phép kiểm Fisher
Nhận xét: Bệnh ĐTĐ thai kỳ không liên quan với tuổi mẹ, nghề nghiệp, trình độ học vấn và nơi ở với p lần lượt tương ứng là 0,723; 0,759; 0,404; 1.
Mối liên quan của một số yếu tố đến đái tháo đường thai kỳ
Mối liên quan giữa số lần có thai, tiền sử sản khoa, tiền sử gia đình, thói quen ăn uống và tính chất công việc với đái tháo đường thai kỳ.
Qua Table 3 nhận thấy không có sự liên quan giữa số lần có thai, tiền sử sản khoa, tiền sử gia đinh, thói quen ăn uống, tính chất công việc với đái tháo đường thai kỳ với p>0,05.
Mối liên quan giữa một số yếu tố và đái tháo đường thai kỳ
|
Yếu tố liên quan |
ĐTĐTK n (%/ nhóm) |
Không ĐTĐTK n (%/ nhóm) |
P | ||
|
Lần có thai |
1 |
36(45) |
95(56) |
0,124 | |
|
2 |
33(41) |
57(34) | |||
|
3 |
10(13) |
11(6) | |||
|
>3 |
1(1) |
7(4) | |||
|
Tiền sử sản khoa |
Thai lưu |
có |
4(5) |
5(3) |
0,473 |
|
không |
76(95) |
165(97) | |||
|
Sẩy thai |
có |
10(13) |
24(14) |
0,881 | |
|
không |
70(87) |
146(86) | |||
|
Đẻ con ≥ 4000gr |
có |
3(4) |
4(2) |
0,683 | |
|
không |
77(96) |
166(98) | |||
|
Đẻ con dị tật |
có |
4(5) |
3(2) |
0,215 | |
|
không |
76(95) |
167(98) | |||
|
Tiền sử gia đình |
ĐTĐ thế hệ 1 |
có |
8(10) |
17(10) |
1 |
|
không |
72(90) |
153(90) | |||
|
Tăng HA mạn tính |
có |
6(8) |
16(9) |
0,796 | |
|
không |
74(92) |
154(91) | |||
|
Thói quen ăn uống |
Dùng mỡ động vật |
7(9) |
7(4) |
0,149 | |
|
Dùng dầu thực vật |
73(91) |
163(96) | |||
|
Uống nước ngọt ≥ 5 ngày/ tuần, ≥ 1 cốc/ ngày |
12(15) |
18(11) |
0,428 | ||
|
Không uống nước ngọt |
68(85) |
152(89) | |||
|
Sữa bầu ≥ 6 ngày/ tuần, ≥ 1 cốc/ ngày |
31(39) |
68(40) |
0,960 | ||
|
Không uống sữa bầu |
49(61) |
102(60) | |||
|
Sữa chua ≥ 5 ngày/ tuần, ≥ 1hộp/ ngày |
40(50) |
62(36) |
0,058 | ||
|
Không ăn sữa chua |
40(50) |
108(64) | |||
|
Tính chất công việc |
thời gian đi < thời gian ngồi |
44(55) |
102(60) |
0,552 | |
|
thời gian đi ≈ thời gian ngồi |
11(14) |
26(15) | |||
|
thời gian đi > thời gian ngồi |
25(31) |
42(25) | |||
|
Tổng |
80 |
170 | |||
Mối liên quan giữa BMI trước khi có thai và đái tháo đường thai kỳ
Trong nghiên cứu của chúng tôi thấy có sự liên quan giữa BMI và đái tháo đường thai kỳ. Table 4 cho thấy phân tích bằng mô hình hồi quy logistic thấy khả năng mắc đái tháo đường thai kỳ tăng lên 1,18 lần KTC 95% (1,07-1,31), nếu BMI của thai phụ trước mang thai tăng lên 1 đơn vị
Mối liên quan giữa BMI trước khi có thai và đái tháo đường thai kỳ
|
Nhóm đối tượng |
n |
Nhỏ nhất |
Lớn nhất |
TB ± ĐL |
P |
PR |
|
Tất cả thai phụ |
250 |
15,22 |
30,22 |
21,06 ± 2,69 | ||
|
Nhóm ĐTĐTK |
80 |
15,22 |
30,22 |
21,88 ± 2,88 |
0,001 |
1,18 (1,07-1,31) |
|
Nhóm không ĐTĐTK |
170 |
16,23 |
28,44 |
20,68 ± 2,51 |
Kiểm định Logistic đơn biến
Mối liên quan giữa số lượng yếu tố liên quan,tiền căn số lần mắc đái tháo đường thai kỳ với đái tháo đường thai kỳ
Table 5 cho thấy số lượng yếu tố liên quan có ảnh hưởng tới khả năng mắc đái tháo đường thai kỳ với p < 0,05 và giá trị PR=2,08(KTC95%:1,08-3,98) khi thai phụ có 2 yếu tố liên quan. Ngoài ra cũng có sự liên quan giữa tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ và tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ với p < 0,05, và PR=2,27 (KTC95%:1,00- 5,16) đối với thai phụ có tiền sử mắc đái tháo đường thai kỳ.
Mối liên quan giữa số lượng yếu tố liên quan, tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ và đái tháo đường thai kỳ
|
ĐTĐTK n (%/nhóm) |
Không ĐTĐTK n (%/nhóm) |
Tổng n (%/ tổng) |
P |
PR (95%CI) | ||
|
Số yếu tố liên quan |
Không có |
41(27) |
113(73) |
154(61,6) |
0,012 |
1 |
|
Có 1 yếu tố |
26(35) |
48(65) |
74(29,6) |
Not available | ||
|
Có 2 yếu tố |
11(65) |
6(35) |
17(6,8) |
2,08(1,08-3,98) | ||
|
Có 3 yếu tố |
2(50) |
2(50) |
4(1,6) |
Not available | ||
|
≥4 yếu tố |
0(0) |
1(100) |
1(4) |
Not available | ||
|
Tiền sử số lần bị ĐTĐTK |
0 |
69(29,4) |
166(70,6) |
235(94) |
P=0,001 |
1 |
|
1 |
10(71,4) |
4(28,6) |
14(5,6) |
2,27 (1,00- 5,16) | ||
|
2 |
1(100) |
0 |
1(0,4) |
Not available | ||
|
Tổng: |
80 |
170 |
250 (100) | |||
Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan của đái tháo đường thai kỳ
Qua Table 6 áp dụng mô hình hồi quy đa biến với các yếu tố liên quan của đái tháo đường thai kỳ bao gồm: tuổi, tiền sử gia đình, tiền sử sản khoa, số lần mang thai, tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ, thói quen ăn uống, thói quen vận động, BMI.
Phân tích hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan của đái tháo đường thai kỳ
|
Yếu tố liên quan |
P |
PR |
KTC 95% |
|
Tuổi |
0,234 |
1,01 |
0,99-1,02 |
|
Tiền sử gia đình ĐTĐ |
0,820 |
1,04 |
0,751-1,43 |
|
Tiền sử gia đình tăng HA mạn |
0,631 |
0,95 |
0,77-1,17 |
|
Tiền sử thai lưu |
0,514 |
1,15 |
0,76-1,75 |
|
Tiền sử đẻ sẩy thai |
0,899 |
1,02 |
0,74-1,41 |
|
Tiền sử đẻ con dị tật |
0,144 |
1,41 |
0,89-2,22 |
|
Tiền sử đẻ con to |
0,793 |
0,94 |
0,59-1,50 |
|
Số lần mang thai |
0,662 |
0,98 |
0,90-1,07 |
|
Thường sử dụng mỡ động vật |
0,129 |
1,22 |
0,95-1,57 |
|
Thời gian ngồi nhiều hơn đi |
0,404 |
0,97 |
0,91-1,04 |
|
Uống sữa bầu: ≥ 6 ngày/tuần, ≥ 1 cốc/ ngày |
0,632 |
0,97 |
0,86-1,10 |
|
Uống nhiều nước ngọt: ≥ 6 lon/ ≥6 ngày/ tuần |
0,568 |
1,06 |
0,88-1,27 |
|
Ăn sữa chua: ≥ 5 ngày/ tuần, ≥ 1hộp /ngày |
0,037 |
1,14 |
1,01-1,28 |
|
BMI |
0,045 |
1,03 |
1,00-1,06 |
|
Tiền sử mắc ĐTĐ thai kỳ |
0,018 |
1,55 |
1,08-2,22 |
Nhận xét:có 3 yếu tố liên quan tới đái tháo đường thai kỳ gồm: BMI trước mang thai, tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ và thói quen ăn nhiều sữa chua.
THẢO LUẬN
Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại Bệnh viện Từ Dũ TPHCM, là nơi tiếp nhận thai phụ từ các tỉnh thành trên khắp cả nước, nên các đặc điểm dịch tễ có sự phân bố rộng rãi về cả tuổi thai phụ, ngành nghề và học vấn.
Trong số các đặc điểm kinh tế xã hội này, không nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về yếu tố dịch tễ nào, điều này có thể lý giải một phần bởi sự phân bố cũng như đặc thù công việc phụ thuộc vào điều kiện rất khác nhau của từng địa phương và cách phân chia hiện nay không thể phản ánh chính xác điều kiện làm việc và sinh hoạt đặc thù của công việc. Và với trình độ học vấn và tuổi thai, chúng tôi cũng ghi nhận sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, tương tự với nghiên cứu của tác giả Trương Thị Ái Hòa10, Võ Thị Ánh Nhàn11.
Giá trị trung bình các mẫu đường huyết khi sàng lọc, có 250 thai phụ tham gia trong nghiên cứu của chúng tôi thực hiện nghiệm pháp dung nạp đường. Kết quả cho thấy đường huyết trung bình lúc đói chung của các thai phụ là 4,69 ± 0,46 mmol/l, sau thời điểm uống glucose 1 giờ là 8,41 ± 1,62 mmol/l, sau 2 giờ là 7,37 ± 1,35 mmol/l. glucose lúc đói trung bình là 6,13 ± 0,82 mmol/l, sau 1 giờ 8,9 ± 1,3 mmol/l, sau 2 giờ 7,2 ± 0,8 mmol/l. Như vậy, giá trị các mẫu đường huyết trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đương so với một số nghiên cứu khác trong nước. Điều đó cho thấy có thể có sự tương đồng trong việc chẩn đoán.
Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong số 250 thai phụ được làm nghiệm pháp dung nạp glucose, phát hiện tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ là 32% (theo tiêu chuẩn của ADA 2015). Như vậy tỷ lệ ĐTĐTK trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các tác giả trong nước nghiên cứu các năm trước đó. Điều này cho thấy cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tỷ lệ ĐTĐ type 2 nói chung và tỷ lệ ĐTĐTK nói riêng có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở Việt Nam.
Các yếu tố liên quan với ĐTĐTK
Về tuổi mẹ, qua thống kê, độ tuổi trung bình của thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi ở nhóm ĐTĐTK là 31,41± 5,22 và ở nhóm không ĐTĐTK là 30,55 ± 5,34. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,298.
Về nghề nghiệp, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK ở các nhóm nghề nội trợ (21,2%) và nhóm nghề tri thức (38,8%) đều cao hơn so với nhóm nghề công nhân (17,6%) và nhóm nghề buôn bán (10,4%). Tuy nhiên, tương tự các nghiên cứu của các tác giả Trương Thị Ái Hòa10, Võ Thị Ánh Nhàn11 chưa tìm thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các ngành nghề.
Về chỉ số BMI trước khi có thai, theo nghiên cứu của chúng tôi, qua phân tính bằng mô hình hồi quy logistic cho thấy có ý nghĩa giữa chỉ số BMI trước mang thai của thai phụ và ĐTĐTK với p<0,05, Theo đó khả năng mắc ĐTĐTK tăng lên 1,18 lần KTC 95% (1,07-1,31), nếu BMI của thai phụ trước mang thai tăng lên 1 đơn vị. Điều này cũng phù hợp với y văn khi cả ACOG12, ADA7 và WHO13 đều xác định đây là một trong những yếu tố có liên quan mạnh đến ĐTĐTK.
Về mối liên quan giữa số lần mang thai và ĐTĐTK, kết quả phân tích đa biến từ nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy mối liên quan giữa ĐTĐTK và số lần có thai vẫn giữ nguyên giá trị không ý nghĩa thống kê khi đưa vào phương trình hồi quy với p = 0,66. Tương tự với tác giả Trương Thị Quỳnh Hoa 9.
Về tiền sử sản khoa và ĐTĐTK, chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của tiền căn sẩy thai, thai lưu, sinh con dị tật, thai to. Trong khi tác giả Trương Thị Quỳnh Hoa9 cho thấy thai lưu làm tăng khả năng mắc ĐTĐTK với PR=15,1(KTC95%: 1,5 - 151,0).
Về tiền sử gia đình và ĐTĐTK, chúng tôi không tìm thấy sự liên quan. Trong khi tác giả Trương Thị Quỳnh Hoa9 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định với PR=2,0 (KTC95%: 1,0 – 4,0), điều này có thể giải thích bởi trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ thai phụ có tiền sử gia đình này chiếm số lượng nhỏ.
Về tiền căn mắc ĐTĐTK, so với nhóm không có tiền căn mắc ĐTĐTK thì khả năng mắc ĐTĐTK tăng 2,27 lần ở nhóm thai phụ có 1 lần tiền căn mắc ĐTĐTK, Sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05, tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng14.
Về thói quen ăn uống và ĐTĐTK, chúng tôi nhận thấy có sự liên quan giữa việc ăn sữa chua ≥ 5 ngày/tuần, ≥ 1hộp/ ngày, với P<0,05.
Về tính chất công việc, chúng tôi hỏi thai phụ về thời gian đi lại trong ngày so với thời gian ngồi trong công việc và nhận thấy so với thời gian ngồi tương đương đi thì việc thời gian đi hay ngồi chiếm nhiều hơn không có ý nghĩa thống kê.
Qua mô hình hồi quy đa biến logistic nhằm loại trừ các yếu tố gây nhiễu và tương tác thì kết quả cho thấy có 3 yếu tố có liên quan ĐTĐTK có ý nghĩa thống kê là: BMI trước mang thai, Tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ và ăn sữa chua.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cắt ngang trên 250 thai phụ có tuổi thai từ 24-28 tuần từ tháng 6/2020 đến tháng 11/2020 tại bệnh viện Từ Dũ với tiêu chuẩn chẩn đoán ADA 2015, kết quả cho thấy:
- Tỉ lệ hiện mắc đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện Từ Dũ năm 2020 là 32%; KTC 95% [26,3-38,2]
- Các yếu tố độc lập liên quan đến khả năng mắc ĐTĐTK, trong mẫu nghiên cứu ghi nhận:
-
BMI trước mang thai của thai phụ, tăng 1 đơn vị thì khả năng mắc ĐTĐTK tăng lên 1,03 lần với PR=1,03, KTC 95% [1,00-1,06], p=0,045.
-
Tiền căn mắc đái tháo đường thai kỳ, một lần mắc làm tăng khả năng mắc ĐTĐTK lên 1,55 lần với PR=1,55, KTC 95% [1,08-2,22], p=0,018.
-
Ăn sữa chua ≥ 5 ngày/tuần, ≥1 hộp/ngày, làm tăng khả năng mắc ĐTĐTK lên 14% với PR=1,14, KTC 95% [1,01-1,06], p=0,038.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ cao: 32% và các yếu tố liên quan đến tỷ lệ này, do đó khuyến cáo thai phụ nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý, tránh béo phì, tránh ăn nhiều chất ngọt để hạn chế các kết cục bất lợi của thai kỳ, đặc biệt trong quá trình chuẩn bị mang thai và chăm sóc tiền sản.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐTĐTK: Đái tháo đường thai kỳ
IADPSG: International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups
HAPO: The Hyperglycemia and Adverse Pregnancy Outcome
OGTT: oral glucose tolerance test
BV: bệnh viện
HA: huyết áp
ADA : the American Diabetes Association
ĐTĐ: Đái tháo đường
ACOG: the American College of Obstetricians and Gynecologist
WHO: World Health Organization
PR: Prevalence Ratio, Tỉ số tỉ suất hiện mắc
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm nghiên cứu cam kết không mâu thuẫn quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong nhóm tác giả.
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Lê Bảo Ngọc, Nguyễn Quang Vinh, Trần Minh Quang, Lê Khắc Duy và Phạm Trung Hiếu lên ý tưởng và thiết kế nghiên cứu; thực hiện việc thu thập và phân tích số liệu; tham gia viết bản thảo của bài báo. Trần Thị Lợi lên ý tưởng và thiết kế nghiên cứu; sửa chữa bản thảo bài báo.